Home / DỊCH VỤ LUẬT SƯ / Dân Sự / LÀM THỦ TỤC KHAI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ TẠI DĨ AN, THUẬN AN, THỦ DẦU MỘT, TÂN UYÊN, BẾN CÁT BÌNH DƯƠNG

LÀM THỦ TỤC KHAI NHẬN DI SẢN THỪA KẾ TẠI DĨ AN, THUẬN AN, THỦ DẦU MỘT, TÂN UYÊN, BẾN CÁT BÌNH DƯƠNG

Thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống các qui phạm pháp luật dân sự Việt Nam. Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân luôn luôn được pháp luật nhiều nước trên thế giới quan tâm theo dõi và bảo hộ. Việt Nam là một đất nước có nền văn hóa theo tư tưởng á đông, do việc coi trọng những phong tục tập quán, tình cảm cha con, vợ chồng anh em, đã khiến cho không ít người bỏ qua việc đảm bảo thi hành quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế. Bên cạnh đó cũng có những trường hợp đã lập di chúc nhưng bản di chúc đó lại không phù hợp theo qui định của pháp luật, khiến những người thừa kế lại phải giải quyết tranh chấp thông qua pháp luật, làm mất đi tình cảm, hòa khí vốn có. Do vậy việc hiểu được các chế định về thừa kế là cần thiết đối với công dân, có ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thừa kế. Chế định Quyền thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, bao gồm các qui phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo một trình tự nhất định, đồng thời qui định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Theo Điều 609 Bộ luật dân sự 2015 ( BLSD) qui định “Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc”. Như vậy, có thể hiểu người thừa kế là cá nhân có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật. Còn người thừa kế là pháp nhân hay tổ chức chỉ có thể được hưởng thừa kế theo di chúc. Di sản: bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Tài sản riêng tức là những tài sản thuộc phần sở hữu riêng của người chết đứng tên lúc còn sống; tài sản chung với người khác là phần tài sản do lúc còn sống người chết đã đồng tạo ra cùng chung với người khác. Ví dụ góp vốn cùng sản xuất kinh doanh… Tại Điều 613 qui định về Người thừa kế, tức là người được hưởng di sản của người đã chết theo di chúc hoặc theo qui định của pháp luật. Người thừa kế có quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Pháp luật dân sự Việt Nam qui định mọi cá nhân đều có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật, không phân biệt về tình trạng sức khỏe, giới tính…tuy nhiên trừ một số trường hợp qui định tại điều 621 BLDS: – Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; – Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; – Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; – Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Tuy nhiên, họ sẽ vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Bên cạnh quyền nhận di sản, pháp luật thừa kế của nước ta quy định người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản nếu sự từ chối quyền hưởng di sản của người thừa kế phù hợp với những điều kiện mà pháp luật đã quy định,theo điều 620 BLDS: – Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. – Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết. – Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản. Theo tinh thần của điều luật này, thì việc từ chối nhận di sản được coi là một quyền năng của người được hưởng thừa kế. Tuy nhiên việc thực hiện quyền năng này chỉ được pháp luật chấp nhận khi việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản. Đây là điểm mới của luật dân sự 2015 so với luật dân sự 2005. Trước đây, việc thực hiện quyền năng này chỉ được pháp luật chấp nhận trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày mở thừa kế; nếu quá thời hạn kể trên, người được hưởng di sản mới bày tỏ ý kiến về việc từ chối nhận di sản thì việc từ chối đó không được pháp luật chấp nhận và người đó buộc phải chấp nhận việc hưởng quyền năng của mình đó là “quyền hưởng thừa kế di sản”. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế, rất ít trường hợp người nhận di sản thực hiện việc từ chối nhận di sản trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày mở thừa kế (tức là ngày mà người để lại di sản chết). Trong không ít trường hợp, sau khi người để lại di sản chết hàng vài năm, việc phân chia di sản mới được đặt ra (điều này là hoàn toàn phù hợp với cách xử sự truyền thống của người Việt Nam). Khi đó, tranh chấp về thừa kế mới nảy sinh, các bên đương sự đưa nhau ra tòa, yêu cầu Tòa án giải quyết. Nhiều người trong số các đương sự này vì không muốn tham gia vào vụ tranh chấp hoặc vì các lý do khác đã không muốn nhận di sản thừa kế và lúc này họ mới có ý định từ chối nhận di sản. Những người này làm đơn xin Tòa án cho phép họ từ chối nhận di sản (tức là họ từ bỏ một quyền năng của mình). Nếu Tòa án chấp nhận thì sẽ vi phạm quy định về thời hạn từ chối di sản theo Điều 642 Bộ luật dân sự. Nếu Tòa án không cho họ thực hiện quyền năng này, rõ ràng ý chí định đoạt quyền năng của họ đã không được đảm bảo. Như vậy, quyền thừa kế đối với một khối di sản nhất định về bản chất cũng là một quyền tài sản. Người có quyền năng này cũng chính là chủ sở hữu của khối tài sản đó. Theo Điều 195 Bộ luật dân sự thì chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt số phận pháp lý của tài sản thuộc sở hữu của mình, tức là có quyền chuyển nhượng, tặng cho hoặc thậm chí từ bỏ quyền sở hữu của mình. Như vậy, việc cho phép người được hưởng di sản thừa kế có quyền từ chối nhận di sản thừa kế là hoàn toàn hợp lý. Việc thực hiện quyền năng này ngoài thời hạn 06 tháng (nếu không phải để trốn tránh một nghĩa vụ tài sản) thì hoàn toàn không “gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” như nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu quy định tại Điều 165 Bộ luật dân sự. Rõ ràng, chưa có sự thống nhất trong quy định của các Điều 642, Điều 195 và Điều 165 Bộ luật dân sự. Việc áp dụng một cách máy móc Điều 642 làm phức tạp hóa quan hệ dân sự, gây phiền phức cho người dân, chứ chưa thực nhằm mục đích làm ổn định quan hệ xã hội. Vì vậy, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của những người thừa kế, cũng như tạo điều kiện cho Tòa án giải quyết nhánh chóng, kịp thời các tranh chấp về thừa kế, Bộ luật dân sự 2015 đã sửa đổi “Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản” cho phù hợp với tình hình thực tiễn.
Với phương châm hết lòng vì lợi ích khách hàng luatsumiennam.vn sẽ tư vấn cho quý khách hàng trình tự, thủ tục tranh chấp tài sản thừa kế cũng như khai nhận di sản thừa kế tại Bình Dương một cách nhanh chóng ít tốn thời gian nhất.
Quý khách có nhu cầu tư vấn tranh chấp thừa kế cũng như làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế hãy nhấc máy gọi cho chúng tôi.
Tại Bình Dương luật sư Phạm Ngọc Trang: 0988.465559

About admin

Check Also

thu-tuc-ly-hon

LUẬT SƯ TƯ VẤN THỦ TỤC LY HÔN NHANH TẠI BẾN CÁT BÌNH DƯƠNG 0988465559

LUẬT SƯ TƯ VẤN THỦ TỤC LY HÔN NHANH TẠI BẾN CÁT BÌNH DƯƠNG 0988465559 …

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *